THÁNG 10 NĂM 2026
“Halleluia, Lời Chúa dẫn soi con đường đi. Halleluia! Lời Chúa, bánh thiêng ban nguồn sống! Phúc cho người vui nghe, yêu mến, gẫm suy Lời luôn“
__________________________________________________________________________________
Ngày 11.10. CHÚA NHẬT 28 QN
Tiệc cánh chung
Ngày tận thế thường được liên tưởng với tàn phá và trừng phạt. Đó là thời điểm con người chịu phán xét. Nghĩ vậy, nên ngày đó gây sợ hãi. Giáo lý dạy tận thế là thời điểm hoàn tất chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Ngôn sứ Isaia phác họa ngày đó như một bữa tiệc (Is 25, 6-10a) Vào thời cuối, trên núi Sion Thiên Chúa sẽ dọn một bữa tiệc dành cho tất cả mọi người, chứ không chỉ cho Israel, là dân được chọn.
Hỏi: “Ai được lên núi Chúa? Ai được ở trong đền thánh của Người?” Thánh vịnh 24 cho câu trả lời: “Đó là kẻ tay sạch lòng thanh, chẳng mê theo ngẫu tượng, không thề gian thề dối.” Nói cách khác: Đó chính là khi thiên hạ nhìn nhận Thiên Chúa và trông đợi Người (Is 25, 9). Như vậy nghĩa là sẽ có một thời điểm, khi tất cả mọi người đều [được làm cho] trở nên xứng đáng. Ai ai cũng được Thiên Chúa ban phúc lành, được Thiên Chúa cứu độ. Ngày đó sẽ là một lễ hội tràn đầy sức sống, dư đầy niềm vui. Một bữa tiệc lớn, với những món ăn ngon miệng và loại rượu hảo hạng, với ca hát và nhảy múa.
Thiên Chúa cũng sẽ ngồi cùng tại bàn ăn. Ngài là chủ tiệc lớn nhất trong của cuộc đời chúng ta. Ngài cùng ăn, cùng uống. Chính Thiên Chúa, như đoạn Kinh Thánh đẹp đẽ và đầy niềm vui này gợi ý, sẽ “nuốt chửng cái chết.” (“He has swallowed up death forever!”; “Er hat den Tod für immer verschlungen“) (Is 25,8). Thiên Chúa không “đánh bại” cái chết, không “vượt qua”, cũng không “phá hủy” nó. Ngài sẽ “nuốt chửng” nó! Chẳng còn gì sót lại – làm như thể cái chết chưa từng tồn tại. Và Thiên Chúa sẽ lau khô nước mắt trên mọi khuôn mặt. Ngài sẽ hướng về từng người một và lấy đi mọi nỗi buồn và tổn thương, thậm chí cả cái chết nơi chúng ta.
Đây là bức tranh tương lai mà ngôn sứ Isaia vẽ nên trong bài đọc tuần này. Một hình ảnh dường như hoàn toàn không phù hợp với thực tại ngày nay. Nó trái ngược hẳn với những hình ảnh về chiến tranh và khủng bố, đang xảy ra nhiều nơi trên thế giới. Hình ảnh đối lập với những hàng người ngày càng dài, trước các điểm phát thực phẩm từ thiện, hay sự ủng hộ ngày càng tăng dành cho các đảng phái dân túy, coi thường con người, và những tác động ngày càng nghiêm trọng của khủng hoảng khí hậu.
Sự tương phản này đúng là một thử thách, một thử thách của niềm hy vọng. Nhưng điều cốt lõi của niềm tin Kitô giáo nằm ngay đó: Kitô hữu không hy vọng vì họ phớt lờ thực tại, mà họ hy vọng ngay cả trong tuyệt vọng. Họ hy vọng vào ngày hòa bình giữa các dân tộc. Không còn đau khổ hay nước mắt nữa. Muôn dân sẽ ngồi lại với nhau, với Thiên Chúa, trong một bàn tiệc thịnh soạn, rộn ràng và vui tươi.
Ngày 18.10. CHÚA NHẬT 29 QN
Của Xêda trả về Xêda; của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa!
Lập mưu tính kế (Trong văn hóa Trung Quốc, mưu kế không được coi là hành vi lừa dối vô đạo đức, mà là biểu hiện của trí tuệ cao siêu, sự khôn ngoan và ưu thế chiến lược. “36 mưu kế” là một tuyển tập nổi tiếng về các quy tắc ứng xử và chiến thuật cổ xưa.) để hãm hại người khác phản ảnh một tâm địa độc hại, một bản chất thâm hiểm. Tin Mừng hôm nay (Mt 22,15-21) tường trình lại một toan tính như vậy. Người Pharisêu và những người phe Hêrôđê (ủng hộ Rôma) lên kế hoạch, và dàn dựng rất kỹ lưỡng một cái bẫy cho Đức Giêsu. Những người đứng đầu đạo và đời muốn chứng kiến trực tiếp cảnh Chúa Giêsu bị sập bẫy. Sự nham hiểm được tỏ bày nơi nội dung của câu hỏi họ đặt cho Ngài:
“Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta. Vậy xin Thầy cho biết ý kiến: có được phép nộp thuế cho Xêda hay không?”
“Tất nhiên là không được phép!” Đó là câu trả lời mà những người theo chính quyền đô hộ muốn nghe. Vì họ cần một lý do, để có thể bỏ tù Đức Giêsu với tội danh xúi giục trốn thuế. Nếu câu trả lời là: “Tất nhiên là được phép nộp thuế!”, thì các đại diện tôn giáo sẽ lấy lời đó làm bằng chứng, rằng Đức Giêsu không đứng về phía dân chúng, mà phía quân rôma xâm lăng.
Đức Giêsu đọc được ý đồ xấu xa đó. Làm thế nào Ngài có thể tránh được cái bẫy này? Đồng tiền thuế có hình và danh hiệu của hoàng đế cung cấp câu trả lời - nhưng chỉ một nửa phần: “Của Xêda, trả về Xêda.” Giáo lý Hội thánh Công giáo số 2240 cũng nhắc phải hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế, như một nghĩa vụ luân lý và nhiệm vụ công dân. Tiền thuế giúp nhà nước duy trì trật tự và cung cấp các dịch vụ công cộng thiết yếu cho xã hội.
Nửa phần còn lại của câu trả lời là: “Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.” Đức Giêsu không đối lập Đền Thờ với Hoàng đế và Nhà nước mà ông đại diện. Ngài nêu bật Thiên Chúa là Đấng Tối Cao, là Thẩm Quyền phê bình và đưa ra phán quyết cho mọi thể chế nhà nước.
Hỏi điều gì thuộc về Thiên Chúa? Sự sống, danh dự, hạnh phúc, công bằng, tự do và thịnh vượng của con người là điều Chúa quan tâm. Ngài muốn họ sống sung mãn. Điều đó cũng có nghĩa là các yêu cầu và nghĩa vụ đối với nhà nước, không thể và không được tuân theo và thực hiện một cách mù quáng, thiếu sự phê phán. Khi đặt câu hỏi, liệu những gì Hoàng đế hay quyền lực nhà nước yêu cầu có nên được thực hiện hay không, thì luôn phải lấy tiêu chuẩn của Thiên Chúa làm thước đo.
Ngày 25.10. CHÚA NHẬT 30 QN
Suy bụng ta ra bụng người
Người Do-thái có lễ “Simchat Tora” – Lễ niềm vui Luật Chúa. Các cuộn sách chứa các luật lệ (Torah) được rước long trọng trong Hội Đường với âm nhạc và múa hát; các em nhỏ được nhận kẹo và những món quà nhỏ. Luật và các điều răn Chúa gắn chặt với lịch sử và làm nên cốt lõi của Do-thái giáo. Đó là câu chuyện về cuộc giải phóng dân Israel khỏi ách nô lệ ở Ai-cập và bước đường sau đó. Trong bối cảnh đó, Môsê trao cho dân chúng những tấm bia có tạc Mười Điều Răn, mà ông đã nhận được từ Thiên Chúa.
Với Israel, Mười Điều Răn là “hệ thống định vị của Thiên Chúa”. Nó giúp họ duy trì được sự tự do và sự cứu rỗi, từ sau khi vượt thoát ách nô lệ Ai-cập, quân đội của Pharao và Biển Đỏ, băng qua sa mạc và tiến bước từng chặng một để đến miền Đất Hứa. Vậy, Luật Chúa hướng đến những con người đã được giải thoát, những người biết rõ con đường phải đi, ngay cả khi con đường đó trở nên gian nan và khó lường. Luật Chúa giúp họ bảo vệ tự do được ban tặng, để họ không không rơi lại vào cảnh nô lệ.
Bài đọc một (Xh 22, 20-26) được trích từ một phần có vị trí đặc biệt trong Cựu Ước, được gọi là “Sách Giao Ước”. Các quy định pháp lý trong đó lấy công bằng xã hội làm mục tiêu. Đó là việc bảo vệ người ngoại kiều, góa phụ và trẻ mồ côi, cũng như lệnh cấm thu lãi. Họ không được trở nên nghèo hơn so với hiện tại. Những gì con người cần để sinh tồn thì không được phép tước đoạt. Lãi suất cắt cổ và chiếc áo choàng của người nghèo là những ví dụ điển hình.
Những người cần được bảo vệ có thể tin tưởng chắc chắn vào sự che chở của Thiên Chúa. Chúa đặc biệt lắng nghe họ. Người ngoại kiều và người nghèo ở Israel được Thiên Chúa bảo vệ. Do đó, đây cũng là nhiệm vụ của dân Chúa. Sự bảo vệ đặc biệt này được lý giải dựa trên chính trải nghiệm của Israel: “Chính các ngươi cũng từng là những người ngoại kiều tại xứ Ai-cập” (c. 20). Quá khứ được nhắc nhớ để họ đừng quên mình là ai và đến từ đâu, và cần hành xử thế nào. Ký ức này là nền tảng tạo nên bản sắc của Israel, giúp định hướng và kết nối họ với nhau - và với những người đang ở trong cùng cảnh ngộ.
Những kinh nghiệm và thông tin họ đã gom trữ được ngày xưa, động viên họ cảm thông và chia sẻ ngày nay. Nhắc nhớ lại việc mình đã được cứu thoát làm nền tảng cho cách đối xử công bằng và phù hợp với đồng loại. Thiếu đi ký ức đó, Israel - và cả chúng ta đây - sẽ dễ trở nên vô ơn, và vô cảm trước những bất công và bất hạnh quanh ta. Đường tương lai sẽ thiếu ánh sáng tự do, nếu quên kinh nghiệm được cứu thoát.